CẢI TẠO VÀ XỬ LÝ NƯỚC TRONG AO NUÔI TÔM

1.Phương pháp cải tạo ao: Ao cũ cần loại bỏ hết chất thải sau 1 vụ nuôi theo phương pháp sau:

Bước 1:

- Di chuyển bùn ra khỏi ao

- Giữ nước trong ao 30 – 40 cm sử dụng oxy già (H2O2) oxy hóa loại bỏ các chất hữu cơ. Sau đó xả bỏ lấy nước vào ao 30 – 40 cm sử dụng chế phẩm sinh học phân hủy hết các chất hữu cơ.

Bước 2 : Rải vôi khắp đáy ao và bờ ao, liều lượng 20 – 50 kg/1000m2 (Tùy thuộc vào độ pH và độ phèn của ao bón cho phù hợp).

Cày đáy ao đối với ao giang khô được (Tùy thuộc vào độ cứng của đất nên cày trước rồi rải vôi hoặc rải vôi – cày – rải vôi).

2. Xử lý thuốc

 Lấy nước vào ngâm 1 – 2 ngày, mực nước 1,2m sục khí để trứng cá, trứng tôm nở, một số nơi bà con thường sử dụng nước giếng ngầm, trong nước có kim loại nặng nên xử lý EDTA liều lượng 3 – 5 ppm

 Xử lý Chlorin (ngày thứ 3) liều lượng 25 – 30 ppm, pH thấp hiệu quả tốt. Chlorin không cho hiệu quả cao trong môi trường nước đục, nhiều chất hữu cơ lơ lững. Nếu muốn gây màu nước sớm và an toàn cho tôm giống thả, sau 24h xử lý cần loại bỏ Chlorin tự do dư thừa bằng ThioSunfat (Na2S2O3.5H2O) liều lượng 10 – 15 ppm, hòa tan rải đều chạy quạt nước.

 Xử lý Saponin (ngày thứ 5) liều lượng 10 – 15 kg/1000m3

Gây nuôi động vật phù du, màu nước (ngày thứ 7). Sinh vật phù du phát triển sẽ giảm các chất có hại trong ao không gây sốc cho tôm.

- Dolomite 20 – 25kg/1000m3 để gây màu nước, ổn định hệ đệm, cung cấp dinh dưỡng cho ao.

- Sử dụng men tạo tảo silic 1 kg/5000m3

 Ổn định môi trường (vi sinh) (Ngày thứ 9) tùy chọn đánh liều gấp đôi hay gấp ba so với hướng dẫn sử dụng trong bao bì. Nhằm cung cấp một lượng vi khuẩn đủ lớn trong ao để ổn định về môi trường.

 Kiểm tra tổng thể (Ngày thứ 10)

- Các yếu tố môi trường: Oxy hòa tan, pH, Nhiệt độ nước, độ mặn, độ kiềm, tảo, động vật phù du…

 Xử lý vi sinh (Ngày thứ 11) tùy chọn đánh liều gấp đôi hay gấp ba so với hướng dẫn sử dụng trong bao bì.

 Thả tôm ngày thứ 15 trở đi

Lưu ý : Không nên thả tôm giống trong ao trữ nước ít hơn 6 ngày vì thời gian này không đủ cho sự hình thành sinh khối tảo.

- Không nên trữ tôm post trong ao đã trữ nước hơn 20 ngày vì thời gian này quá dài có thể làm xuất hiện địch hại trong ao

About these ads

2 phản hồi »

  1. oxitcam đã nói

    cho toi hoi cach nao de giam bot tao do trong ao nuoi tom the chan trang.

    • Lê Toàn Thắng đã nói

      Hiện nay, nghề nuôi tôm nước lợ ở nhiều nước trên thế giới đã và đang chịu ảnh
      hưởng nghiêm trọng do môi trường nuôi ô nhiễm và dịch bệnh phát sinh, đặc biệt là
      mô hình nuôi tôm sú thâm canh. Hậu quả là có nhiều vùng nuôi tôm bị thất bại liên
      tục đã bị bỏ hoang, gây nên những tác động nghiêm trọng về kinh tế xã hội. Để hạn
      chế sự xâm nhập của mầm bệnh vào ao nuôi, đặc biệt là mầm bệnh virus đốm trắng
      (WSSV) và virus đầu vàng (YHV) các nhà khoa học đã nghiên cứu đề xuất mô
      hình nuôi tôm ít thay nước, mô hình này đang được áp dụng phổ biến hiện nay. Tuy
      nhiên, do ít thay nước nên chất lượng nước giảm rất nhanh, vật chất dinh dưỡng
      tích lũy về cuối vụ nuôi dẫn đến hiện tượng tảo nở hoa của các loài tảo Lam, tảo
      Giáp. Khi tảo phát triển quá mức (độ trong 60µg/L)
      thường dẫn đến sự biến động của một số yếu tố chất lượng nước (pH, O2, CO2,
      NH3…). Hơn nữa, tảo thường bị tàn sau khi phát triển quá mức cũng gây nên một số
      tác động xấu đến tôm như làm giảm hàm lượng oxy, tạo nên khí độc… Ngoài ra,
      thành phần loài tảo cũng có ảnh hưởng đến tôm, tảo Khuê thường phát triển vào
      đầu vụ nuôi chúng là thức ăn tốt cho tôm ở giai đoạn nhỏ, trong khi tảo Lam và tảo
      Giáp thường phát triển mạnh ở cuối vụ nuôi, chúng tiết độc tố gây ảnh hưởng đến
      sức khỏe và khả năng kháng bệnh của tôm.

      Việc khống chế sự phát triển của tảo trong mô hình nuôi tôm ít thay nước rất khó
      khăn và cũng có vai trò quyết định đến sự thành công của mô hình. Để khống chế
      sự phát triển của tảo, hiện nay người nuôi sử dụng một số biện pháp như: dùng chất
      ức chế quá trình trao đổi chất (CuSO4, Simazine…), chất oxy hóa mạnh (Chlorine,
      BKC, KMnO4…), chất nhuộm màu… Tuy nhiên, việc dùng hóa chất để diệt tảo có
      thể tạo nên nguy cơ ô nhiễm môi trường (kim loại nặng – Cu, Mn…) và các hóa
      chất độc tồn lưu trong tôm (BKC, Simazine…) có thể ảnh hưởng đến sức khỏe của
      người tiêu dùng. Biện pháp được xem là có hiệu quả làm giảm chất thải và duy trì
      màu nước đó là biện pháp sinh học (nuôi kết hợp tôm với cá rô phi). Biện pháp này
      được áp dụng trong vài năm gần đây ở các nước Philippines, Thái Lan, Ecuador với
      các hình thức kết hợp khác nhau như: Thả trực tiếp cá rô phi vào ao tôm với mật độ
      khoảng 0,1 con/m2; Nuôi cá rô phi trong lồng đặt giữa ao tôm với mật độ thả 10 con/m2 lồng; Nuôi cá rô phi trong ao lắng tuần hoàn nước với ao tôm (Fitzsimmon,
      2001).

Dòng phản hồi RSS của bài viết này. · URL TrackBack

Gửi phản hồi

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

%d bloggers like this: